Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn với sự đa dạng về văn hoá, ngôn ngữ. Đặc biệt, tại quốc gia này, nước cũng rất đa dạng. Nước tại Ấn Độ đến từ nhiều nguồn khác nhau nhưng lượng nước ngọt chỉ chiếm 4% tổng lượng nước ngọt trên thế giới trong khi dân số chiếm 16% dân số toàn cầu. Rõ ràng, trong điều kiện đó, Ấn Độ luôn đứng trước sự thiếu hụt nước ngọt. 38 triệu người dân của quốc gia này cũng thường xuyên mắc phải các bệnh do nước gây ra, ước tính, mỗi năm có khoảng 780.000 người Ấn chết vì các bệnh do nước trong đó chủ yếu là trẻ em và trẻ sơ sinh.
Về cơ bản, nước được sử dụng để tiêu dùng đến từ hai nguồn: nước ngầm và nước mặt. Nước ngầm là nước được khai thác từ trong lòng đất bằng cách sử dụng giếng khoan và ống phun. Nước ngầm là kết quả của quá trình thấm nước từ bề mặt trái đất vào lòng đất, rất giàu hàm khoáng chất. Canxi, magiê và sắt, với số lượng cân bằng tạo thành nước khoáng lý tưởng. Tuy nhiên, những nguồn nước ngầm nguyên sơ như vậy không có nhiều ở những khu vực có đông dân cư, hoạt động nông nghiệp và công nghiệp. Người ta ước tính rằng khoảng 70% nước ngầm của Ấn Độ bị ô nhiễm. Do con người xả nước thải chưa qua xử lý vào các vùng nước tự nhiên. Việc khai thác quá mức nước ngầm để đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, công nghiệp và tiêu dùng bên ngoài giới hạn đã làm hạ mực nước ngầm xuống mức cực kỳ thấp. Với mực nước ngầm giảm, các chất bẩn và muối hòa tan trong nước (TDS) đạt mức cao. Khi đó, con người phải đối mặt với rất nhiều căn bệnh nguy hiểm.
Tại Ấn Độ, lượng ngọt luôn trong tình trạng khan hiếm, ở nhiều vùng, người dân không có cơ hội tiếp xúc với nước sạch
Nước bề mặt được tìm thấy trong các hồ chứa, ao, sông chủ yếu là nước mưa. Nước bề mặt mềm tự nhiên và chứa rất ít tạp chất hòa tan. Tuy nhiên, chính hoạt động xả thải không đúng cách của con người vào các vùng nước đã gây ô nhiễm nghiêm trọng. Uớc tính 90% nước thải ở các nước đang phát triển được thải vào sông và các vực nước mà không qua xử lý. Nước mặt trở thành nguồn cấp cho các nhà máy xử lý nước, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân. Trong hệ thống phân phối nước, đường ống dẫn nước chạy song song với đường nước thải, việc này tạo ra chân không trong các đường ống nước không áp suất, cho phép các chất bẩn từ đường nước thải bị hút vào đường nước uống, nhiều chất bẩn bị rò rỉ. Các chất bẩn này chủ yếu là vi khuẩn và vi rút gây ra các bệnh nghiêm trọng như thương hàn, dịch tả, viêm dạ dày ruột và tiêu chảy.
Các công nghệ xử lý nước uống
Lọc, trao đổi ion, tách và khử trùng là 4 loại công nghệ lớn được dùng để làm sạch nước. Ngoài các phương pháp này còn có các công nghệ khác như vi lọc, siêu lọc, thẩm thấu ngược và khử trùng. Tùy thuộc vào chất lượng nước, các công nghệ tách (màng) và khử trùng được sử dụng để tạo ra nước uống an toàn không có TDS quá mức và / hoặc vi sinh vật bám vào Tiêu chuẩn của WHO về nước uống. Thẩm thấu ngược (RO) là một cách hiệu quả để xử lý nước có mức TDS cao hơn mức cho phép, cũng có thể chứa các chất như fluorid và asen. Mức TDS cao thường liên quan đến độ cứng và mùi vị không mong muốn. Nước đã qua xử lý RO có mùi vị dễ chịu, giống như nước đóng chai. Điều quan trọng là hầu hết các màng RO đều giảm TDS tới 90%. Nước ngầm cũng thường chứa vi sinh vật nên RO sau khử trùng thường được bảo vệ tốt. (Công việc chính của màng RO là tách các tạp chất hòa tan chứ không phải khử trùng.)
Khi nguồn nước cần xử lý là nước bề mặt, các công nghệ lọc và khử trùng đủ hiệu quả để làm sạch nguồn nước. Máy lọc trọng lực dựa trên hóa chất hoặc máy lọc UV không chứa hóa chất thực hiện tốt công việc khử trùng. Việc bổ sung RO để xử lý nước bề mặt có TDS thấp là không cần thiết.
Để có được phương pháp xử lý nước phù hợp, điều đầu tiên mà các chuyên gia quan tâm đó chính là hàm lượng TDS. Có thể thực hiện xét nghiệm để kiểm tra nồng độ hóa chất, đặc biệt là ở những khu vực được biết đến với khả năng ô nhiễm asen hoặc florua. Nếu mức TDS lớn hơn 500 ppm thì máy lọc nước nên áp dụng công nghệ Thẩm thấu ngược (RO), chúng sẽ giúp giảm mức TDS xuống khoảng 90%. Nếu TDS thấp (dưới 500), việc sử dụng máy lọc nước RO sẽ không cần thiết. Các thiết bị xử lý khử trùng bằng hoá học hoặc UV/ ozone sẽ giúp loại bỏ tối đa các loại vi sinh vật gây hại.
Máy ozone xử lý hệ thống nước
Biết ưu và nhược điểm của từng công nghệ sẽ giúp người dùng lựa chọn được thiết bị phù hợp hơn. Với máy lọc nước RO khoảng 80% nước bị loại bỏ và chỉ 20-30% được sử dụng để uống. Trong nhiều máy lọc nước kiểu lưu trữ không trọng lực điện, clo có thể là hóa chất được sử dụng để lọc. Trong máy lọc UV, nước cứng sẽ không trở nên mềm và các hộp mực và đèn UV cần được thay thế định kỳ.
Yếu tố áp lực nước cũng rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc sử dụng máy lọc nước trực tuyến. Máy lọc nước trực tuyến thường cần áp suất từ 5-40 PSI (pound trên inch vuông) để hoạt động hiệu quả. Một cách dễ dàng để tính toán áp suất trong vòi là dựa vào độ cao của bể chứa nước- nơi nước được phân phối bởi trọng lực. Vì vậy, nếu bạn đang ở trong một tòa nhà 10 tầng và bạn sống ở tầng 8, áp lực nước khoảng 10PSI, vì mỗi 10 feet từ trên xuống tương đương với 5 PSI. Nếu bạn sống ở tầng 1, áp lực khoảng 45 PSI. Trong trường hợp đó, một van giảm áp sẽ được sử dụng cùng với máy lọc nước trực tuyến.
Đối với những ngôi nhà có áp suất quá thấp, có thể lựa chọn một máy bơm tăng áp hoặc thay thế một máy lọc tia UV hoạt động trên áp suất bể áp mái.
Dù máy lọc nước hoạt động với công nghệ nào thì chúng cũng cần được vệ sinh và bảo dưỡng thường xuyên. Nếu người dùng không thể tự mình thực hiện điều đó, hãy nhờ đến sự trợ giúp của đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp.