Nước thải bẩn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái dưới nước

Nước thải xâm nhập vào các hệ thống thủy sản từ các nguồn khác nhau, từ dòng chảy mặt và hệ thống tự hoại đến các cơ sở xử lý nước thải và thoát nước mưa. Mỗi năm có khoảng 3,5 triệu người Mỹ mắc bệnh từ các hoạt động giải trí như bơi lội và chèo thuyền vì nước bị ô nhiễm. Chưa dừng lại ở đó, tác động của ô nhiễm nước đối với hệ sinh thái dưới nước vượt xa bệnh tật của con người.

o-nhiem-nuoc-lam-ca-chet-1

Các loại nước thải

Có bốn loại nước thải chính là sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và đô thị. Nước thải sinh hoạt bao gồm nước đen chứa phân người và động vật cũng như nước xám từ các hoạt động gia đình như tắm rửa, giặt giũ, nấu ăn và làm vườn. Nước thải công nghiệp bao gồm chất thải công nghiệp như bột giấy, giấy, dòng chảy hóa dầu, hóa chất, muối và axit. Nước thải nông nghiệp đến từ các hoạt động nông nghiệp, nước ngầm bị ô nhiễm và kỹ thuật canh tác, đặc biệt là liên quan đến phân bón và thuốc trừ sâu. Nước thải đô thị được định nghĩa là sự kết hợp giữa nước thải sinh hoạt và công nghiệp kết hợp với nước thải và nước mưa.

Xử lý nước thải

Xử lý nước thải có ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là xử lý sơ cấp, chất thải rắn lắng xuống đáy, các vật liệu mật độ thấp như chất béo và dầu nổi lên trên. Những vật liệu này sau đó có thể được gỡ bỏ. Giai đoạn hai là điều trị thứ cấp, loại bỏ vật liệu sinh học hòa tan và lơ lửng. Hầu hết các hệ thống xử lý thứ cấp sử dụng vi khuẩn hiếu khí để tiêu thụ vật liệu hữu cơ trong nước thải. Giai đoạn ba là làm sạch khâu cuối cùng trước khi xả ra môi trường ngoài nhạy cảm. Tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm sau khi đã qua hai giai đoạn đầu, sẽ có những phương pháp xử lý nước thải thích hợp cho khâu khử trùng cuối cùng.

Nước thải trong môi trường nước

Nước thải sinh hoạt chứa các chất ô nhiễm khác nhau, từ các mối nguy sinh học và các hạt vi dẻo đến xà phòng và chất béo. Nước thải nông nghiệp chứa các mối nguy sinh học, muối, thuốc trừ sâu và phân bón. Nước thải đô thị bao gồm nước thải sinh hoạt và công nghiệp nhưng cũng chứa dòng chảy từ cống thoát nước mưa. Cống thoát nước mang theo chất ô nhiễm từ sân và công viên (bụi bẩn, chất thải vật nuôi, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón) cũng như từ đường phố và bãi đậu xe (dầu, xăng, bụi bẩn và rác). Nước thải công nghiệp chứa nhiều loại hóa chất bao gồm hóa dầu và các hóa chất, axit, vật liệu phóng xạ và muối. Những phát hiện gần đây cho thấy một loạt các loại thuốc cũng làm ô nhiễm chất thải.

Đại học Michigan ghi chú rằng trong một báo cáo năm 2018, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) khẳng định rằng “53% của con sông và suối, 71% số hồ, 79% số cửa sông, và 98% bờ biển mà đã được đánh giá phân loại ô nhiễm.

Các mối nguy sinh học trong môi trường nước

Các mối nguy sinh học được tìm thấy trong nước thải bao gồm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng và virus. Vi khuẩn và các bệnh do vi khuẩn bao gồm E. coli, sốt thương hàn, salmonella, dịch tả và shigellosis. Nấm bao gồm aspergillus. Ký sinh trùng bao gồm cryptosporidium, giardia và giun tròn. Virus như viêm gan A cũng có thể được tìm thấy trong nước thải. Các vấn đề sức khỏe do ô nhiễm nước thải ảnh hưởng đến khoảng 3,5 triệu người Mỹ mỗi năm. Ước tính 50 phần trăm nước thải vào Địa Trung Hải là nước thải chưa được xử lý. Chất thải sinh học từ các trang trại, nhà ở, công viên và bãi biển gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Vi khuẩn và các sinh vật khác trong nước ngọt sử dụng oxy để chuyển hóa nước. Trong khi phá vỡ nước thải, những vi sinh vật này có thể gây ra vùng chết (vùng thiếu oxy). Những vùng chết này thiếu oxy mà cá và các sinh vật bản địa khác cần để tồn tại. Trong môi trường biển, vi khuẩn đường ruột của con người có thể lây nhiễm san hô và gây bệnh tẩy trắng san hô. Khi san hô mất vi khuẩn tự nhiên và tảo, chúng sẽ chết, dẫn đến các khu vực nơi hệ sinh thái san hô, từ vi khuẩn đến quần thể cá bị chết rất nhiều.

Các loại thuốc từ hoóc môn (ảnh hưởng đến sự phát triển sinh sản ở cá và động vật lưỡng cư) đến các chất kích thích hợp pháp và bất hợp pháp cho đến thuốc chống trầm cảm đã xâm nhập vào hệ sinh thái dưới nước. Một số loại thuốc đi vào hệ thống nước thải thông qua nước tiểu và phân của người dùng, một số loại thuốc đã được xả xuống cống một cách trực tiếp. Một nghiên cứu về tác động của amphetamine đối với sinh vật dưới nước cho thấy sự sinh sản của côn trùng tăng tốc, giảm số lượng tảo và thay đổi sự đa dạng của tảo cát và vi khuẩn.

o-nhiem-nuoc-lam-ca-chet

Nguy cơ dinh dưỡng trong môi trường nước

Các vật liệu giàu chất dinh dưỡng từ phân bón, đặc biệt là nitơ và phốt pho gây ra hiện tượng phú dưỡng trong cả hệ sinh thái tươi và biển. Tảo nở hoa từ sự dư thừa chất dinh dưỡng làm giảm sự truyền ánh sáng trong nước, tác động đến thực vật và sinh vật phù du trong khi làm giảm lượng oxy trong nước. Khi tảo chết, vi khuẩn phân hủy tiêu thụ nhiều oxy hơn. Trong trường hợp cực đoan, mất oxy dẫn đến vùng chết lớn. Dòng chảy phân bón và nguyên liệu giàu dinh dưỡng từ miền Trung Tây Hoa Kỳ đã gây ra một khu vực chết thiếu oxy rộng 7,728 dặm vuông ở Vịnh Mexico.

Chất thải công nghiệp trong môi trường nước

Chất thải công nghiệp thường đi qua các cơ sở xử lý nước thải giống như chất thải sinh hoạt. Chất thải công nghiệp thường chứa nhiều loại hóa chất và cũng có thể chứa các kim loại nặng như chì, thủy ngân, cadmium và asen. Không phải tất cả các hóa chất này được loại bỏ hoàn toàn trong các nhà máy xử lý nước thải, vì vậy các hóa chất được thải ra sông, hồ và nước biển. Ngoài ra, một số chất thải có thể được thải ra hoặc tràn vào hệ sinh thái dưới nước mà không cần xử lý. Tác động của ô nhiễm nước thải đối với các sinh vật biển tác động đến chuỗi thức ăn.

Kim loại nặng tích tụ trong mô cá khi cá tiêu thụ sinh vật phù du, tảo và con mồi nhỏ hơn chứa kim loại. Quá trình này được gọi là quá trình sinh học. Khi các động vật khác, bao gồm cả con người, ăn những con cá này, các kim loại nặng có thể đạt đến nồng độ đủ để gây độc cho người tiêu dùng. Những kim loại nặng này cũng có thể tích lũy với số lượng độc hại cho cá.

Kiểm soát nước thải công nghiệp cũng như các sản phẩm dầu mỏ, chất thải phóng xạ và các chất ô nhiễm hữu cơ dai dẳng đã được cải thiện, với chất thải nhờn giảm 90% trong những năm 1980 và 2006. Các chất ô nhiễm này gây ra tác động tức thời và lâu dài đối với hệ sinh thái do nhiễm độc hoặc làm bẩn các sinh vật phù du, thực vật và động vật.

xu-ly-nuoc-thai

Ô nhiễm không khí và hệ sinh thái dưới nước

Các muội than và khói công nghiệp cũng tác động đến hệ sinh thái dưới nước. Ví dụ, sulfur dioxide kết hợp với hơi nước tạo thành axit sulfuric hoặc mưa axit. Mưa axit và dòng chảy làm giảm pH thủy sản, gây cản trở khả năng hấp thụ oxy, muối và chất dinh dưỡng của cá. Độ pH thấp cũng cản trở sự hấp thụ canxi. Cân bằng canxi không đúng cách làm trứng của chúng không phát triển đúng cách, trở nên quá giòn hoặc yếu. Thiếu canxi cũng gây ra gai và xương yếu ở cá và xương yếu cho tôm càng xanh. Mưa axit cũng làm rỉ nhôm từ đất, cản trở sinh sản ở động vật giáp xác và cá. Hơn nữa, khi độ pH giảm xuống dưới 6, các loài côn trùng như bướm không thể sống sót, ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn.

Xả rác trong hệ sinh thái dưới nước

Nước thải đô thị bao gồm rác được rửa vào cống thoát nước mưa và cuối cùng vào đường thủy. Ước tính 70 phần trăm của rác này chìm dưới đáy biển, khoảng 15 phần trăm trên các bãi biển và khoảng 15 phần trăm là trôi nổi trong đại dương. 70 phần trăm là rác thải, nhựa, kim loại và thủy tinh chiếm phần lớn trong 30 phần trăm còn lại. Phần lớn nhựa ở dạng vi dẻo, những mảnh nhỏ từ sự phân hủy của nhựa lớn hơn. Động vật đa dạng như động vật có vú, cá, động vật giáp xác và những loài khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

o-nhiem-nuoc-lam-ca-chet-2

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.